Thứ Sáu, 30 tháng 10, 2020

「津波てんでんこ」 "Tsunami Tendenko" và 3 quy tắc bảo vệ tính mạng của một Nhật Bản kiên cường trước thiên tai

 2011年3月11日午後2時46分。マグニチュード9の地震が起こりました。東日本大震災です。その約30分後、岩手、宮城、福島県の海沿いを中心に大津波が発生し、それによって多くの人が亡くなりました。

Vào ngày 11/3/2011 lúc 2 giờ 46 phút chiều đã xảy ra trận động đất cấp độ 9. Đây là trận thảm hoạ động đất phía đông Nhật Bản. Sau khoảng 30 phút, sóng thần đã xuất hiện tập trung ở Iwate, Miyagi và miền duyên hải tỉnh Fukushima khiến nhiều người thiệt mạng.



重く、悲しいニュースが続く中、私たちを勇気づけるようなニュースもありました。その一つが、岩手県釜石市の子どもたちが助け合い、津波から自分たちの命を守ったという出来事でした。釜石市でも、地震による死者や行方不明者は1200人以上に上りました。しかし一方で、市内の小中学生の約3000人、99.8%の無事が確認され、このことは「釜石の奇跡」として大きく報道されました。

Trong lúc những tin tức nặng nề đau buồn được phát sóng thì cũng có những tin tức khích lệ chúng ta. Một trong những tin tức ấy chính là việc những trẻ em ở thành phố Kamaishi thuộc tỉnh Iwate đã giúp đỡ lẫn nhau, bảo vệ tính mạng của chính các em khỏi cơn sóng thần. Dù là ở thành phố Kamaishi thì những người chết hay mất tích do động đất đã lên đến hơn 1200 người. Nhưng mặt khác, khoảng 3000 học sinh tiểu học và trung học trong thành phố, được xác nhận 99,8% bình an vô sự. Thông tin này được đưa tin một cách mạnh mẽ như là “Điều kỳ diệu của Kamaishi”.


実は釜石では、2004年から津波から身を守るための意識を高める活動が行われてきました。「津波は必ず来るものと考え、それに備える」ための活動です。市内の子どもたちは学校の授業や防災訓練をとおして、地震や津波のことを学び、「どうやったら命を守れるか」を考え、訓練を続けてきました。そして、そのときに繰り返し教えられてきたのが、「命を守る三原則」です。

Thực ra hoạt động nâng cao ý thức bảo vệ bản thân khỏi sóng thần đã được tổ chức vào năm 2004 tại Kamaishi. Hoạt động mang mục đích để mọi người “Luôn ý thức rằng sóng thần chắc chắc sẽ ập đến, cần thiết chuẩn bị đối phó”. Trẻ em trong thành phố học hỏi về động đất và sóng thần qua các tiết học tại trường hay buổi huấn luyện phòng chống thiên tai, các buổi huấn luyện tiếp tục được triển khai với ý nghĩ “Làm thế nào để bảo vệ tính mạng của mình”.


想定にとらわれるな

Không được phép bị trói buộc bởi sự giả định

「自然の力は人の想定を超える」。防災ハザードマップ(被害を予想した地図)はこれまであったことを参考につくった一つの例で、被害が予想されていない地域が絶対安全だとは言えない

“Sức mạnh của tự nhiên vượt xa giả định của con người”. Bản đồ cảnh báo thiên tai là một ví dụ đã lấy những thảm hoạ xảy ra để mọi người tham khảo, không thể nói rằng khu vực không được dự đoán thiệt hại là nơi an toàn tuyệt đối.


どんなときも全力を出す

Lúc nào cũng dốc toàn lực

自然が起こすことだから、何が起こるかわからない。だからこそ、甘く考えることをしないで、どんなときも自分たちができるかぎりの全力を出す。

Bởi đây là sự kiện do thiên nhiên gây ra nên chúng ta không biết được điều gì sẽ xảy ra cả. Chính vì thế chúng ta không được phép suy nghĩ chủ quan mà lúc nào cũng dốc toàn lực mà bản thân có thể.


最初の避難者になろう

Hãy trở thành người lánh nạn đầu tiên

自分が本気で逃げることで、それを見た人たちも逃げるはず。自分が逃げることで、みんなの命を助けることができる。だから、逃げることは恥ずかしいことではない。

Những người khác khi nhìn thấy chúng ta chạy thì họ chắc chắc cũng sẽ chạy. Mọi người chạy trốn thì có thể bảo vệ tính mạng bản thân. Vậy nên việc chạy trốn không phải là một điều đáng xấu hổ.


ところで、東北地方には「つなみてんでんこ」ということばが古くからあり、伝えられてきました。これは「津波が来たらてんでんばらばら、自分のことだけを考えて逃げろ」という意味です。今回の地震でも、家族が心配で家に戻り、それが原因で自分も津波の犠牲になってしまったという例は少なくありませんでした。しかし釜石の場合、「津波が来たらいちばん初めに必ず逃げるから」という子どもの言葉を信じて、自分たちも安全に逃げることができたと言う家族、両親の声が多く聞かれました。子供たちが「自分のことだけ」を考えた結果、家族の命を守ることもできたのです。また「『津波てんでんこ』は一緒に逃げる人を見捨てない」と言います。釜石市で避難の中心になった中学生も、近くの小学生やお年寄りなどに声をかけて一緒に避難し、彼らの命を救うことになりました。

Sẵn đây có một từ cũ được truyền lại tại khu vực đông bắc là “Tsunami Tendenko”. Có nghĩa là “Sóng thần sẽ đến theo nhiều cách, hãy chỉ nghĩ về mình mà chạy”. Dù là trận động đất lần này thì có những trường hợp đã trở thành nạn nhân của sóng thần bởi nguyên nhân lo lắng cho gia đình mình mà quay lại thì cũng không ít. Nhưng trường hợp tại Kamaishi, chúng tôi được nghe từ những phụ huynh, những gia đình rằng vì họ tin vào lời của bọn trẻ rằng “Nếu như sóng thần ập đến thì bước đầu tiên nhất định phải chạy” mà bản thân họ có thể an tâm lánh nạn. Kết quả mà bọn trẻ đã suy nghĩ “Chỉ bản thân mình” chính là đã có thể bảo vệ tính mạng của gia đình mình. Hơn nữa “‘Tsunami Tendenko” nói rằng không bỏ rơi người lánh nạn cùng mình”. Cả những học sinh trung học đã tập trung lánh nạn tại Kamaishi cũng đã kêu gọi các em học sinh tiểu học hay các cụ già cùng nhau lánh nạn, bảo vệ được tính mạng của họ.


釜石の子どもたちは「命を守る三原則」を実践しました。けれどもその奥には「つなみてんでんこ」という、津波で苦しんだ昔の人々の思いを表すことばがありました。「つなみてんでんこ」が結果的に「釜石の奇跡」を起こす原動力になったのだと思います。

Trẻ em ở Kamaishi đã thực hành “Ba quy tắc bảo vệ tính mạng”. Nhưng sâu bên trong cái gọi là “Tsunami Tendenko” chính là câu chữ biểu hiện nỗi niềm của người xưa - những người đã chịu nỗi đau bởi sóng thần. Chúng tôi cho rằng “Tsunami Tendenko” đã trở thành nguồn động lực tạo nên “Điều kỳ diệu của Kamaishi”.


マグニチュード độ (đơn vị cường độ của động đất)

海沿い vùng duyên hải

防災訓練 huấn luyện phòng chống thiên tai


Bài viết được dịch từ sách
日本語学習者のための読解厳選テーマ10. 中級

"Nihongo Gakushusha no Tame no Dokkai Gensen Teema 10 [Chuukyuu]

Thứ Năm, 15 tháng 10, 2020

『人生最大の屈辱』 Nỗi hổ thẹn lớn nhất của đời người


私の人生最大の屈辱は小学校低学年の頃の夏休み。

母と私たち兄弟は母の実家である和歌山に向かっていた。

そして忘れもしない、所は大阪天王寺。電車の乗り換えである。

Nỗi hổ thẹn lớn nhất đời người của tôi là vào kỳ nghỉ hè độ chừng lớp 2 lớp 3 tiểu học.

Mẹ cùng anh em tôi hướng về Wakayama nơi nhà ngoại.

Tôi cũng chẳng quên được, nơi đó là khu nhà chọc trời ở Osaka có thể đổi tàu điện.


私たちがホームに着くとすでに多くの人が列車に乗ろうと並んでいた。

順番からいくと私たち家族はとてもじゃないが座れそうになかった。

和歌山まで立ったまま約二時間。

Lúc chúng tôi đến sân ga thì người người cũng đã xếp hàng để lên xe điện.

Khi đến lượt lên xe, gia đình chúng tôi có vẻ như không thể ngồi xuống.

Chúng tôi sẽ đứng suốt như thế khoảng chừng hai tiếng đồng hồ đến tận Wakayama.


母は一計を案じて私に囁いた。「窓から入って席を取りなさい」

Mẹ nghĩ ngợi rồi thì thầm với tôi rằng: “Con vào từ đường cửa sổ rồi giữ chỗ đi.”


小学校低学年と言えば、世の中でやっていい事と悪い事を多感に感じるピュアな年代である。

そんなことやれるわけがない。

Nếu nói là lớp 2 lớp 3 tiểu học thì đó là thời điểm trong sáng và đa cảm về cái tốt và cái xấu trong thế gian.

Không đời nào tôi làm được điều đó.


「お母さん、そんな事できないよ」

すると母がまた囁いた。

「あんたが席取らないとちっちゃい妹まで立ってなきゃなんないのよ」

“Mẹ ơi con không làm được đâu.” 

Ngay lập tức mẹ lại thì thầm.

“Con mà không giữ chỗ thì cả em gái nhỏ cũng sẽ phải đứng không phải sao!”


悪魔だ…妹の事まで出して私の心を翻弄しようとするとは…

しかし、私も泣きそうになりながら抵抗した。

「でも、だめだよ、みんなちゃんと並んでるんだから…」

Ác quỷ... Lôi cả em gái ra nữa, định đùa giỡn với mình hay sao chứ...

Nhưng mà tôi cũng vừa mếu máo vừa ngại ngần.

“Nhưng mà không được đâu mẹ ơi. Người ta đang xếp hàng đàng hoàng kia mà...”


そんなやり取りをしているうち、アナウンスとともに列車のドアが開いた。

すると母はおもむろに私を抱き上げ列車の窓から中へと投げ込んだ。

それはあっと言う間の出来事だった。私はひとり誰もいない列車の中で立ち尽くしていた。

Trong lúc nói chuyện qua lại như thế, cửa đã mở ra cùng tiếng phát thanh thông báo.

Lập tức mẹ chầm chậm bồng tôi lên ném vào bên trong xe từ cửa sổ toa tàu.

Trong nháy mắt mọi chuyện đã thành. Tôi đứng thẫn thờ bên trong toa tàu không một bóng người.


唖然としている私に「ちゃんと席取ってるのよ」と叱責が飛ぶ。

ここまできたら従うしかない。

Mẹ gọi khiển trách tôi đang câm nín bên trong: “Giữ ghế đàng hoàng đi.”

Từ lúc này tôi chỉ còn biết nghe theo lời mẹ mà thôi.


私は対面になった4人席を手足を伸ばしてキープしたのであった。

そうするとちゃんと並んで入ってきたおばちゃんが私を見咎めこう言った。

「まあ、なんて子かしら!」

Tôi duỗi tay chân rồi giữ chiếc ghế ngồi được bốn người đối diện.

Ngay lúc đó, một thím đã xếp hàng đàng hoàn bước vào nói như chất vấn.

“Gì chứ, ra là trẻ con à!”


ボ、ボクのせいじゃないんです…私の心の叫びは涙に変わった。

Không, không phải lỗi của con đâu... Trái tim gào thét của tôi chuyển thành những giọt nước mắt.


今でも私の心におばちゃんの言葉は響き続ける。

「なんて子かしら…なんて子かしら…なんて子かしら…」

Đến bây giờ trong tim tôi vẫn văng vẳng lời nói của thím ấy.

“Gì chứ, ra là trẻ con à... Gì chứ, ra là trẻ con à... Gì chứ, ra là trẻ con à...”


Nguồn:

Bài viết: http://www.transistorstudio.co.jp/kibun/nikki/N_kutujyoku.html?fbclid=IwAR0AYiH3iIA46hfyTUeEOXNWO8xhf1ujXKXspwWo9rvdrC4_E231IxJWmgg

Hình ảnh: https://matcha-jp.com/jp/5835

チャンスに巡り合うためには、行動するだけでいい。 Để bắt gặp được những cơ hội, chỉ cần bạn hành động.


「私にはなかなかチャンスがなくてね」と愚痴をこぼしてしまっている人がいるものです。

Có những người than vãn rằng “Cơ hội sao cứ mãi không đến với mình”.

チャンスは、たしかに人によって多い人と少ない人に差があります。

Quả đúng là tuỳ người thì sẽ có sự khác biệt giữa người có nhiều cơ hội hay ít cơ hội.

たとえば、異性との出会いのチャンスは、多い人と少ない人がいるものです。

Ví dụ như cơ hội gặp mặt những người khác giới thì cũng có người ít người nhiều.

なぜ、出会うチャンスの多い人と少ない人とで、差ができるのでしょうか。

Vậy tại sao có thể tạo sự khác biệt giữa người có ít hay nhiều cơ hội gặp gỡ?

その答えが「行動」にあります。

Đáp án chính là “hành động”.

たくさんのチャンスを手に入れている人は、決まってよく行動している人です。

Người có nhiều cơ hội là người hành động có quyết định.

自分からチャンスに出会うために、積極的に行動しています。

Để gặp được cơ hội từ chính chúng ta thì chúng ta cần hành động theo hướng tích cực.

積極的に行動しているため、チャンスに巡り合うのも当然です。

Để hành động theo hướng tích cực thì việc bắt gặp được cơ hội cũng là điều dĩ nhiên.

積極的に異性との出会いを求めている人は、積極的に合コンやパーティーに出席し、比例して出会うチャンスも大きくなります。

Người mong muốn gặp mặt người khác giới theo hướng tích cực thì cơ hội gặp gỡ tỉ lệ thuận với việc tham dự các buổi hẹn hò nhóm hay tiệc tùng theo hướng tích cực sẽ lớn hơn.

逆にチャンスになかなか巡り合えない人の共通点というのは「行動しない」ということです。

Ngược lại, cái gọi là đặc điểm thường thấy ở người mãi chẳng gặp được cơ hội là “họ không hề hành động”.

チャンスのほうからやってくるのを待っていて、自分のほうからつかみにいこうとしていません。

Không nắm bắt cơ hội từ chính bản thân mà đợi nó đến với mình.

実は、チャンスを増やすコツというのは、単純なことです。

Thật ra cái gọi là bí quyết để gia tăng cơ hội là thứ rất đơn thuần.

行動するだけでよかったのです。

Chỉ cần bạn hành động là được.

あなたが、100歩、行動すれば、それに見合うチャンスに巡り合えます。

Nếu bạn hành động 100 bước thì bạn sẽ có thể gặp được cơ hội phù hợp với mình thôi.


Từ vựng:

愚痴をこぼしす phàn nàn, than vãn

つかみにいく(掴みに行く) nắm bắt

コツ bí quyết, mẹo


Link bài viết gốc: https://happylifestyle.com/1346?fbclid=IwAR3IeYAnXPT0f01lqBB7IGZuxBaWyR2yMhRudUx4FFaBeHpK3tGPoZCGMmE

「100年に1度」最強ハリケーンで甚大被害 買って半年の家が…治安悪化懸念(2024年10月13日) Thiệt hại nghiêm trọng do cơ bão mạnh nhất “trăm năm có một”, Căn nhà mua được nửa năm… Nỗi lo “bất ổn an ninh” (13/10/2024)

  (有働由美子キャスター) アメリカを襲った“100年に1度”のハリケーン、現地取材で被害の全容が見えてきました。 (Biên tập viên Undo Yumiko) Nhận thấy các khía cạnh thiệt hại qua việc đưa tin tạ...